Martha Hildebrandt (1925 – ~) là nhà ngôn ngữ học và chính trị gia người Peru. à được biết đến với công trình nghiên cứu ngôn ngữ Tây Ban Nha và các ngôn ngữ bản địa châu Mỹ, đồng thời là nữ Chủ tịch thứ hai của Quốc hội Cộng hòa Peru (1999–2000).

  • Sinh: 13 tháng 1 năm 1925, Chiclín, La Libertad, Peru
  • Mất: 8 tháng 12 năm 2022, Lima, Peru
  • Học vấn: Đại học Quốc gia San Marcos; Đại học Northwestern; Đại học Oklahoma
  • Chức vụ nổi bật: Chủ tịch Quốc hội Peru (1999–2000); Phó tổng giám đốc UNESCO về khoa học xã hội (1976–1978)
  • Giải thưởng: Palmas Magisteriales hạng Amauta (1999); Huân chương Andrés Bello; Huân chương Công trạng cho Phụ nữ (2010)

Martha Luz Hildebrandt Pérez-Treviño (Chiclín, La Libertad, ngày 13 tháng 1 năm 1925), là con của Jorge Hildebrandt Dávila và Áurea Luz Pérez-Treviño Olivos.

Bà kết hôn với đại sứ Venezuela Leonardo Altuve Carrillo và có một con gái là Martha Isabel. Bà là nghị sĩ Quốc hội Peru từ năm 1995 đến 2011, và là người phụ nữ thứ hai giữ chức Chủ tịch Quốc hội Peru vào năm 1999. Đồng thời, bà là thành viên (giữ chức thư ký thường trực đến năm 2005) của Academia Peruana de la Lengua.

Nhà ngôn ngữ học và chính trị gia Martha Hildebrandt
Nhà ngôn ngữ học và chính trị gia Martha Hildebrandt

Bà theo học tại Khoa Văn học và Sư phạm của Universidad Nacional Mayor de San Marcos, đồng thời theo đuổi hai ngành Văn học và Sư phạm. Bà nhận bằng Cử nhân Nhân văn (1948) và Tiến sĩ Văn học (1949) với các luận án ngôn ngữ học: Asimilación y disimilación và El español en Piura. Ensayo de dialectología peruana. Với công trình sau, bà được trao Giải thưởng Quốc gia Fomento a la Cultura Javier Prado.

Sự nghiệp chính trị

Gia nhập khối Cambio 90–Nueva Mayoría, Hildebrandt được bầu vào Quốc hội từ 1995 đến 2011. Bà lãnh đạo Quốc hội năm 1999, thời điểm lần đầu tiên ban lãnh đạo hoàn toàn do phụ nữ đảm nhiệm. Trong nhiệm kỳ, bà thúc đẩy các sáng kiến văn hóa như phục hồi Bảo tàng Dị giáo và phát triển Quỹ xuất bản của Quốc hội.

Cống hiến và di sản

Là thành viên số của Học viện Ngôn ngữ Peru (1971), bà giữ chức Thư ký thường trực 1993–2005. Bà được vinh danh trong và ngoài nước vì đóng góp cho nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa và giáo dục. Khi qua đời ở tuổi 97, Tổng thống Dina Boluarte ca ngợi bà là “một người phụ nữ đã đóng góp cho nghiên cứu về bản sắc Peru qua ngôn ngữ và văn hóa.”

Nhờ học bổng của American Association of University Women, bà theo học Ngôn ngữ học cấu trúc tại Northwestern University, sau đó tiếp tục nghiên cứu Ngôn ngữ học miêu tả tại Đại học Oklahoma.

Nguồn arteycultura.tv

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *